XIN ĐỪNG BẮN VÀO
QUÁ KHỨ BẰNG SÚNG LỤC!
Những
ngày gần đây, trên Facebook, có nhiều cuộc bút chiến về một số sai phạm nghiêm
trọng trong cuốn sách “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử”. Trong số đó, sai phạm lớn
nhất, khi cuốn sách nói đến lệnh cấm của một vị cán bộ cao cấp trong Quân đội:
“Không được nổ súng!”, dẫn tới sự phản ứng của các Cựu chiến binh Hải quân Việt
Nam và những người từng tham gia CQ88 bảo vệ chủ quyền Tổ quốc tại quần đảo
Trường Sa ngày 14/3/1988.
Thực
ra, tin đồn thất thiệt này đã từng xuất hiện trên Fb, và đã có nhiều phản bác,
chính tôi – một cựu chiến binh Hải quân – người đã từng tham gia CQ88 cũng đã
có ý kiến; song khi làm sách, người chủ biên là Thiếu tướng Lê Mã Lương vẫn cho
in, khiến cho nhiều người lầm tưởng, nghi ngờ, thậm chí lên án Quân đội – lực
lượng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”… Việc Thiếu tướng Hoàng Kiền có
ý kiến khá bức xúc trên Fb cũng là điều dễ hiểu vì mệnh lệnh này gắn với danh
dự và uy tín của Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng, của Quân đội nhân dân
Việt Nam nói chung…
Riêng
anh Lương, mặc dù là Tướng bên bộ binh, không hiểu được những khó khăn, phức
tạp của Hải quân nhân dân Việt Nam thời đó vẫn giữ nguyên ý kiến của mình,
khiến cho cuộc tranh luận càng đi vào chiều hướng gay gắt…
Từng
tham gia CQ88 bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa trong những ngày tháng gian
khổ, nguy hiểm nhất, tôi xin nói kỹ hơn về vấn đề này để bạn đọc trên Fb và mọi
người hiểu rõ thực hư tránh tình trạng “bắn vào quá khứ”!
Nửa
cuối năm 1987, trước…tình hình Trung Quốc đang có ý…định chiếm các đảo chìm
thuộc…quần đảo Trường Sa, trung tuần…tháng 7/1987, Đại tướng Lê Đức Anh…- Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng đã vào kiểm tra, làm việc với Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ
chỉ huy vùng 4. Tôi là người được giao nhiệm vụ bảo vệ khu nhà ở của Đại tướng
và Phó Đô đốc Giáp Văn Cương, Chuẩn Đô đốc Đoàn Bá Khánh. Ngay sau khi Đại
tướng kết thúc chuyến công tác, Bộ Tư lệnh Hải quân, Vùng 4 đã triển khai kế
hoạch đặt cột mốc chủ quyền trên các đảo chìm và lệnh cho Lữ đoàn 146 thực
hiện.
Những
tháng cuối năm 1987, cả Bộ chỉ huy vùng 4 đều bận rộn. Tư lệnh Hải quân – Phó
Đô đốc Giáp Văn Cương hầu như ở lại Vùng 4 để chỉ đạo công việc. Tôi còn nhớ,
Tư lệnh Giáp Văn Cương mặc dù đã gần 70 tuổi, nhưng vẫn nhanh nhẹn, minh triết.
Có lần, ông đi cùng với Chuẩn Đô đốc Đoàn Bá Khánh, cả hai vị tướng cùng xuất
phát, nhưng ông vượt lên trước khá xa, bọn tôi còn chỉ cho nhau và cười vì cái
bụng lặc lè của tướng Khánh… Đặc biệt, Tư lệnh quân chủng còn lệnh cho các tàu
chiến luôn sẵn sàng trực chiến ở Trường Sa. Đầu năm 1988, Đại tá Phạm Công
Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 – Lữ đoàn trực tiếp có nhiệm vụ bảo vệ Trường
Sa phải trực chiến trên tàu HQ09. Thời điểm đó, biển động dữ dội, sóng to, đánh
đứt cả neo tàu; buộc tàu phải chạy về quân cảng Ba Son để sửa chữa. Được tin,
Phó Đô đốc Giáp Văn Cương đã điện thoại trực tiếp trên sóng FM mà tôi nghe
được: “Anh phải lập tức ra Trường Sa bằng bất cứ giá nào! Nếu không, tôi thay
người khác!” (khi đó, trung đội cảnh vệ của chúng tôi nằm ngay sau Bộ chỉ huy
Vùng 4).
Lữ
đoàn liên tục điều quân, đổi quân ra bảo vệ Trường Sa theo lệnh của Phó Đô đốc
Giáp Văn Cương, nhưng rồi quân không đủ, đến ngày 20 tháng Chạp năm 1987 (tức
là ngày 7/2/1988), Tư lệnh Giáp Văn Cương ra lệnh điều gần nửa số quân trong
trung đội cảnh vệ vùng của chúng tôi tăng cường cho đoàn 146. Tham mưu trưởng
Đỗ Xuân Công (sau này là Tư lệnh Hải quân) phải vò đầu bứt tai: Trung đội cảnh
vệ thiếu người, không hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vùng được. Nhưng, Tư lệnh vẫn
kiên quyết yêu cầu phải thực hiện… Thế là chiều hôm ấy, 11 anh em chúng tôi
xuống nhận lệnh đi Trường Sa… 26 tháng Chạp, toàn bộ khung đảo Đá Lớn của chúng
tôi lên tàu HQ505 của Thiếu tá Vũ Huy Lễ vượt sóng ra khơi…
Sau
khi đoàn chúng tôi tiến ra Trường Sa, các khung đảo khác cũng được thành lập,
để tiếp tục cắm mốc chủ quyền trên các đảo chìm. Dù là đảo chìm dưới mặt nước
biển 1 – 2m, thậm chí đến hơn 10m, nhưng đá Tốc Tan cũng phải đặt mốc chủ
quyền! Lúc đó, ta không thể dựng nhà cao chân ở Tốc Tan, đành kéo pông-tông ra
neo trên đảo. Cán bộ, chiến sĩ sống ngay trên chiếc pông-tông lúc nào cũng dập
dềnh sóng vỗ như thế! Kể ra những chuyện này, tôi muốn nói đến quyết tâm giữ
chủ quyền của Quân chủng Hải quân, của Vùng 4 và Lữ đoàn 146 nói riêng và của
Bộ Quốc phòng nói chung.
Có
người đặt vấn đề: Tại sao khi giặc thảm sát các chiến sĩ khung đảo Gạc Ma và
các chiến sĩ công binh thuộc E83 mà chúng ta không bắn trả? Ở đây có những lý
do rất đặc biệt: Thứ nhất, 3 tàu đến cụm Gạc Ma – Cô Lin – Len Đao đều là những
tàu chở quân, chở hàng ra tiếp tế. HQ505 là tàu loại LST – tàu đổ bộ loại lớn
của Hải quân Mỹ – chiến lợi phẩm của ta sau chiến thắng 30/4/1975. Tàu HQ 604,
HQ 605 là những tàu chở hàng thuộc đoàn tàu không số – những tàu này do Trung
Quốc sản xuất; chính vì vậy, các tàu này (HQ604, HQ605) không được trang bị vũ
khí. Thứ hai: Khi tàu ra khơi, để đảm bảo vũ khí không bị nước biển làm gỉ sét
(nhất là thời điểm này đang là mùa biển động) thì tất cả các loại súng ống
trang bị cho cán bộ, chiến sĩ trên đảo chìm đều được chính anh em bảo quản bằng
cách trét thật nhiều mỡ bò và cho vào các thùng đựng súng để trong kho hàng của
tàu. Đến khi quân giặc gây hấn, mở kho hàng lấy súng ra mới chỉ kịp lau đi ít
mỡ; giương lên bắn, thì chúng đã nã đạn xối xả vào tàu! Tàu HQ604, có một số
khẩu súng AK, RPK, B41; Thuyền trưởng của tàu là đại úy Vũ Phi Trừ ra lệnh bắn
trả nhưng tàu giặc neo cách tàu ta gần 1 hải lý, đạn không thể tới tàu giặc.
Bắn B41, thì khác nào tự đốt mình trước! Tàu HQ604 trúng pháo của giặc từ từ
chìm xuống… một số anh em cán bộ, chiến sĩ nhảy ra khỏi tàu bơi vào bờ đảo.
Quân giặc ở trên xuồng máy dùng câu liêm, móc xích kéo 9 anh em chiến sĩ về tàu
của chúng. Lý do thứ ba: Anh em cán bộ, chiến sĩ thuộc khung đảo Gạc Ma và anh
em cán bộ chiến sĩ công binh rời tàu HQ604 theo lệnh của Trung tá Trần Đức Thông
– Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 để cắm mốc chủ quyền trên những chiếc xuồng nhôm,
chèo vào đảo; trong hoàn cảnh ấy với vài khẩu súng AK47 và một số cái xà beng,
cuốc chim thì làm gì có nhiều mà bắn trả quân giặc, lấy đâu ra cái lệnh: Không
được nổ súng? Và, xin lưu ý: thời ấy, liên lạc của ta hoàn toàn bằng loại thông
tin gõ ma-níp; nếu có lệnh ban hành thì mất cả nửa ngày mới tới (từ việc dịch
điện do cơ yếu phụ trách, đến chiến sĩ thông tin phát đi, nhận điện rồi dịch
lại – sau này, khi tàu Hồng Kông đến câu cá ở Đá Lớn, họ thả 7 chiếc xuồng máy
vè vè quanh đảo, chúng tôi báo cáo về Vùng, rồi Vùng lệnh cho tàu HQ11 đến bắt
và tịch thu xuồng máy, rồi phạt họ thì cũng mất đến khoảng hơn 5 tiếng đồng hồ
– ấy là lúc mà mọi sự chú ý đã dành hết cho Trường Sa). Trong khi, chiến sự chỉ
xảy ra trong thời gian từ lúc hơn 6 giờ sáng 14/3 đến khoảng 10 giờ cùng ngày!
Là
một trong những người tham gia CQ88, trong những ngày tháng gian khổ, ác liệt
nhất của Hải quân nhân dân Việt Nam, tôi – mặc dù chưa được đọc cuốn sách “Gạc
Ma – Vòng tròn bất tử” – nhưng thông tin về lệnh “Không được nổ súng” là hoàn
toàn không chính xác, làm xấu đi hình ảnh Lãnh đạo Bộ Tư lệnh Hải quân, Quân
đội; và đặc biệt xúc phạm những người đã hy sinh trong trận chiến Gạc Ma
14/3/1988. Họ hy sinh vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, khi họ có
quá ít vũ khí trên tay, thậm chí không thể bắn tới kẻ thù, chứ họ không phải
nghe lệnh nào đó một cách mù quáng “Không được nổ súng!” để không tự bảo vệ bản
thân mình! Thêm nữa, trận chiến này một sĩ quan trung cấp của Lữ đoàn cũng đã
anh dũng hy sinh: Trung tá Trần Đức Thông – Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146. Thử hỏi,
một sĩ quan đã từng chiến đấu trên các mặt trận, lại có thể nghe theo khẩu lệnh
nào đó để chịu hy sinh cùng với 63 cán bộ chiến sĩ của mình? Ai đã có lời kể
bịa đặt, nhằm hạ bệ một vị lãnh đạo cao cấp nào đó của Quân đội – dù với mục
đích gì – thì đó cũng là hành động: bắn vào quá khứ bằng súng lục! Và xin thưa,
như vậy – tương lai không chỉ bắn họ bằng đại bác – như lời dẫn của nhà văn Nga
Raxun Gamzatop, mà có thể bằng tên lửa, hoặc những vũ khí tối tân hơn.
Viết
bài này, tôi cũng mong rằng anh Lê Mã Lương hãy nhìn cho đúng đắn thực tế Hải
quân Việt Nam chúng ta thời điểm ấy – cái thời mà tàu của chúng ta cũ kỹ, ít ỏi
(ngay như Lữ đoàn 171 – lữ đoàn tàu chiến của ta lúc đó chỉ có HQ 11, 13, 15,
17 là còn được coi là mới – sau trận 14/3/1988, các tàu này được sơn lại, thay
số hiệu thành 12, 14, 16, 18 để chứng tỏ ta có nhiều tàu), thì việc tác chiến
trên biển là vấn đề khó khăn, khi chúng ta phải đối mặt với quân Trung Quốc
người đông, thế mạnh, vũ khí, trang bị tốt hơn nhiều (lính ta: anh đã nhìn trên
video clip, lính nó trang bị như thế nào? Thời gian ấy, đất nước nghèo khó, bị
cấm vận, phải đi xin viện trợ liên miên)! Và, chắc anh còn nhớ: Bộ đội Cụ Hồ
chúng ta chưa bao giờ khuất phục trước kẻ thù, luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến
thắng! Nếu anh giữ nguyên quan điểm của mình, nhân dân sẽ không tin tưởng vào
những người đồng đội cũ và mới của anh. Khi đó, ai sẽ ủng hộ, nhường cơm sẻ áo,
ai sẽ nâng đỡ bước chân những người chiến sĩ QĐND Việt Nam? Hậu quả của việc
anh làm là: mất nước! Và, như vậy, sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ
người Việt Nam trở thành vô nghĩa! Dù người ta có nói thế nào, Quân chủng Hải
quân nhân dân Việt Nam, tuy quán triệt phương châm 4K: kiên quyết, kiên trì,
không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích của kẻ thù; nhưng cũng sẵn sàng
giáng cho chúng những đòn sấm sét, nếu như chúng tiếp tục xâm lược biển đảo của
Tổ quốc Việt Nam!
Nguyễn Tuân
Nhận xét
Đăng nhận xét